Trong nước: 45 triệu tấn hàng tồn kho đã đạt mức tối đa.
Không có điều kiện để dễ dàng mở rộng sản xuất.
Tính đến tháng 3 năm 2026, năng lực sản xuất nhôm điện phân trong nước đạt khoảng 45,18 triệu tấn, với công suất hoạt động là 44,6 triệu tấn và tỷ lệ sử dụng công suất là 98,7%, gần chạm mốc đỏ 45 triệu tấn do Bộ Công Công Thương đề ra. Phương án duy nhất khả thi để bổ sung năng lực sản xuất mới – thay thế bằng năng lực sản xuất cũ có quy mô tương đương hoặc giảm bớt – cho thấy tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng năm chỉ có thể duy trì ở mức 0,8% đến 1%, và khả năng co giãn nguồn cung cực kỳ hạn chế.
Ở cấp khu vực, các cơ sở sản xuất nhôm thủy điện ở Tây Nam Vân Nam và các khu vực khác sẽ trải qua giai đoạn thiếu điện mùa khô sau khi bước vào quý đầu tiên năm 2026, dẫn đến việc giảm sản lượng theo từng giai đoạn từ 500.000 đến 800.000 tấn. Khi thời điểm sử dụng điện cao điểm mùa hè đến gần, nguy cơ phân bổ điện có thể tái diễn, gây áp lực giảm sản lượng tại địa phương.
Nước ngoài: 2 triệu tấn hao hụt vĩnh viễn
So với nguồn cung trong nước, sự sụt giảm nguồn cung từ nước ngoài có tính bền vững hơn.
Tính đến tháng 3 năm 2026, công suất hoạt động của nhà máy nhôm điện phân ở nước ngoài đạt khoảng 29,38 triệu tấn, nhưng quy mô sản lượng giảm lũy kế đã đạt 1,804 triệu tấn, và riêng trong tháng 3, quy mô sản lượng giảm đạt 2,66 triệu tấn. Khu vực trọng điểm giảm sản lượng tập trung ở Trung Đông, chiếm khoảng 80% tổng quy mô sản lượng giảm ở nước ngoài. Ngoài ra, do sự gián đoạn hợp đồng điện lực, nhà máy Mozhar của Mozambique cũng gặp phải vấn đề tương tự.nhà máy nhômMột phần công suất sản xuất nhôm của Iceland (580.000 tấn) đã bị ngừng hoạt động vô thời hạn, công suất 210.000 tấn của Iceland cũng đã bị đóng cửa vĩnh viễn, và các nhà máy nhôm ở châu Âu và Mỹ tiếp tục giảm sản lượng do cạnh tranh điện năng trong ngành công nghiệp nhôm – sự kết hợp của nhiều yếu tố, và nguồn cung từ nước ngoài đã bước vào chu kỳ suy giảm không thể đảo ngược.
Indonesia, quốc gia từng được thị trường kỳ vọng rất cao, dự kiến chỉ tăng công suất sản xuất thêm khoảng 900.000 tấn vào năm 2026, con số này còn lâu mới đủ để lấp đầy khoảng trống đã nêu.
[Yêu cầu: Tắt động cơ cũ và khởi động động cơ mới]
Tỷ lệ nhôm trong xây dựng truyền thống đã giảm từ 35% năm 2020 xuống còn 22%, và nhôm trong lĩnh vực bất động sản không còn là trụ cột của sự tăng trưởng nhu cầu nữa.
Năng lượng mới sẽ là vật liệu kế nhiệm. Ngành công nghiệp điều hòa không khí tiếp tục thúc đẩy việc sử dụng nhôm thay vì đồng, giúp giảm trọng lượng hơn 30% và chi phí 20% cho mỗi máy điều hòa. Dự kiến đến năm 2026, việc sử dụng nhôm thay thế đồng sẽ đóng góp thêm khoảng 160.000 tấn vào sản lượng điều hòa không khí. Nhu cầu về lá nhôm dùng cho pin xe điện, khung nhôm cho pin mặt trời, thiết bị lưu trữ năng lượng và các lĩnh vực khác đang tăng trưởng theo cấp số nhân.
Logic của việc giới hạn nguồn cung nghiêm ngặt và nâng cấp cơ cấu cầu – sự dịch chuyển lên trên của trung tâm giá nhôm không dựa vào sự xúc tác của các sự kiện ngắn hạn, mà dựa trên sự đánh giá lại có hệ thống các yếu tố cơ bản của ngành.
Thời gian đăng bài: 05/06/2026
